Thông số kỹ thuật: 4D * 51mm
Độ bền phá vỡ (cN / dtex): 3,6
Độ giãn dài khi đứt (%): 43
Phạm vi nóng chảy (°C): 110
Hàm lượng chất xơ bị lỗi (mg / kg): ≤200
Hàm lượng sợi dài gấp đôi (mg / kg): ≤30
Thông số kỹ thuật: 4D * 51mm
Độ bền phá vỡ (cN / dtex): 3,6
Độ giãn dài khi đứt (%): 43
Phạm vi nóng chảy (°C): 110
Hàm lượng chất xơ bị lỗi (mg / kg): ≤200
Hàm lượng sợi dài gấp đôi (mg / kg): ≤30
Thông số kỹ thuật: 4D * 51mm
Độ bền phá vỡ (cN / dtex): 3,6
Độ giãn dài khi đứt (%): 43
Phạm vi nóng chảy (°C): 110
Hàm lượng chất xơ bị lỗi (mg / kg): ≤200
Hàm lượng sợi dài gấp đôi (mg / kg): ≤30
Thông số kỹ thuật: 4D * 51mm
Độ bền phá vỡ (cN / dtex): 3,6
Độ giãn dài khi đứt (%): 43
Phạm vi nóng chảy (°C): 110
Hàm lượng chất xơ bị lỗi (mg / kg): ≤200
Hàm lượng sợi dài gấp đôi (mg / kg): ≤30
Thông số kỹ thuật: 4D * 51mm
Độ bền phá vỡ (cN / dtex): 3,6
Độ giãn dài khi đứt (%): 43
Phạm vi nóng chảy (°C): 110
Hàm lượng chất xơ bị lỗi (mg / kg): ≤200
Hàm lượng sợi dài gấp đôi (mg / kg): ≤30
Thông số kỹ thuật: 4D * 51mm
Độ bền phá vỡ (cN / dtex): 3,6
Độ giãn dài khi đứt (%): 43
Phạm vi nóng chảy (°C): 110
Hàm lượng chất xơ bị lỗi (mg / kg): ≤200
Hàm lượng sợi dài gấp đôi (mg / kg): ≤30
Sợi polyester nóng chảy thấplà một loại sợi nóng chảy ở nhiệt độ tương đối thấp (thường là 110–130 ° C), thường có cấu trúc hai thành phần bao gồm vỏ bọc và lõi. Vỏ bọc được làm bằng Co-PET, trong khi lõi là PET.
Khi đun nóng, vỏ bọc tan chảy trước, tạo thành một "keo" liên kết với các sợi khác để tạo ra các điểm liên kết. Lõi vẫn giữ được hình dạng sợi, duy trì độ bền và cấu trúc, do đó dùng để gia cố và ổn định sợi.
Nó đạt được liên kết ở nhiệt độ thấp, tiết kiệm năng lượng cho các nhà máy.
Vỏ bọc nóng chảy ở nhiệt độ thấp khóa chặt các sợi lại với nhau, tăng cường độ ổn định cấu trúc và loại bỏ sự cần thiết của keo.
Không yêu cầu chất kết dính bổ sung, nó có tính năng phát thải VOC thấp hơn và dễ tái chế hơn.
Nó có thể được pha trộn với nhiều loại sợi khác nhau, bao gồm PET, PP và viscose.
Thường được sử dụng trong các vật liệu yêu cầu "kích thước, độ đàn hồi và hỗ trợ".
Vải không dệt truyền thống chủ yếu liên kết các sợi với nhau thông qua các phương pháp vật lý hơn là liên kết nhiệt hoặc hóa học. Các phương pháp chính bao gồmđục lỗ kim(nhiều lần dùng kim đâm vào các sợi để vướng vào chúng) vàSpunlace(sử dụng tia nước áp suất cao để vướng và lồng vào nhau các sợi). Các kỹ thuật này về cơ bản dựa vào lực vật lý để vướng víu các sợi, nhưng không có điểm liên kết nhiệt, cấu trúc tương đối kém ổn định hơn.
Tuy nhiên, sợi nóng chảy thấp giúp đơn giản hóa việc sản xuất vải không dệt đồng thời giảm chi phí. Nó tăng cường độ mịn, khả năng phục hồi và cấu trúc ba chiều, làm cho nó rất phổ biến trong các ứng dụng không dệt không khí nóng. Hơn nữa, ngành công nghiệp vải không dệt ngày càng ưu tiên tính bền vững của môi trường. Sợi nóng chảy thấp giúp loại bỏ sự cần thiết của chất kết dính hóa học, mang lại độ an toàn cao hơn và giảm ô nhiễm vật liệu.